Cách trị ung thư tinh hoàn

dat09

New member
#1
Đây là bệnh UNG THƯ điển hình có khả năng cứu chữa cao, tính chung cho các giai đoạn người ta có thể chữa khỏi cho 90% số bệnh nhân, ở giai đoạn lan tràn của bệnh cũng có khả năng chữa khỏi 80%.

2. CHẨN ĐOÁN
Để đánh giá giai đoạn một cách chính xác cần thiết tiến hành xét nghiệm các chất chỉ điểm u gồm AFP, HCG, LDH và chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân, ổ bụng, lồng ngực, chụp PET toàn thân.

Bảng 1. Đánh giá giai đoạn ung thư tinh hoàn

Giai đoạn I: U khu trú ở tinh hoàn có thể xâm lấn hoặc không tới thừng tinh hoặc mào tinh

Giai đoạn II: U di căn giới hạn tới hạch sau màng bụng

Giai đoạn III: Ung thư di căn ra ngoài phạm vi của hạch sau màng bụng

Tham khảo danh mục thuốc điều trị ung thư



3. ĐIỀU TRỊ
3.1. U tinh
3.1.1. U tinh giai đoạn I

Phẫu thuật cắt tinh hoàn sau đó theo dõi tích cực hoặc điều trị bổ trợ. U tinh là loại UNG THƯ rất nhạy cảm với xạ trị với liều xạ trị 2.500-3.000cGy vào vùng hạch sau màng bụng mang lại thời gian sống trên 5 năm cho 98% bệnh nhân. Tinh hoàn bên đối diện nên được che chắn bảo vệ khi chụp chiếu hoặc xạ trị để duy trì sinh sản trừ khi u xâm lấn sang cả phía đối bên. Tỷ lệ tái phát sau xạ trị giai đoạn này là 15% nhưng thường xuất hiện muộn hơn so với u mầm không phải dòng tinh. Đơn hoặc shaats carboplatin 1-2 đợt mang lại kết quả tương tự như xạ trị.

3.1.2. U tinh giai đoạn II

Đối với các trường hợp hạch 5cm) hoặc di căn hạch lan tỏa nên được điều trị bằng hóa trị. Các phác đồ có cisplatin áp dụng cho các bệnh nhân này có tỷ lệ đáp ứng trong khoảng 70-90%.

3.2. U mầm không phải dòng tinh
3.2.1. U mầm không phải dòng tinh giai đoạn I

Trước hết phẫu thuật nạo vét hạch sau màng bụng, mang lại hiệu quả cao, có thể cứu chữa được 98% bệnh nhân. Số hạch lấy được có liên quan chặt chẽ đến tiên lượng của bệnh và chỉ định điều trị tiếp theo. Nếu lấy được dưới 6 hạch, nguy cơ tái phát là dưới 35%, trong trường hợp bệnh tái phát hóa trị liệu có thể chữa được 98% trong số các bệnh nhân này. Các trường hợp có di căn hạch vùng (N1) phối hợp nạo vét hạch sau màng bụng phối hợp với hóa trị liệu bổ trợ bằng phác đồ BEP (Bleomycin, etoposid, cisplatin) đưa tỷ lệ tái phát sau điều trị chỉ còn dưới 2%.

Kết quả khi dùng hai đợt hóa trị phác đồ có cisplatin đạt tỷ lệ đáp ứng 99% và tỷ lệ tái phát dưới 5%. Bệnh nhân có hàm lượng AFP và HCG tăng cao kéo dài sau cắt tinh hoàn thường có di căn và nên được cân nhắc hóa trị liệu.

3.2.2. U mầm không phải dòng tinh giai đoạn II

Hầu hết các bệnh nhân u mầm không phải dòng tinh giai đoạn II được điều trị bằng phẫu thuật nạo vét hạch sau màng bụng. Nếu có di căn từ 6 hạch trở lên hoặc u có kích thước > 2cm, tiếp tục điều trị bổ trợ 2 đợt hóa trị bằng phác đồ có cisplatin.

3.3. Điều trị ung thư tinh hoàn di căn xa
Hóa trị là phương pháp được lựa chọn đầu tiên, ở một nghiên cứu so sánh hiệu quả hai phác đồ PVB và BEP cho thấy phác đồ BEP cải thiện được tỷ lệ đáp ứng và thời gian sống cho bệnh nhân UNG THƯ tinh hoàn giai đoạn muộn. Bên cạnh đó phác đồ BEP giảm được một số độc tính, đặc biệt các độc tính trên hệ thần kinh so với phác đồ PVB. Hiện tại BEP là phác đồ được dùng phổ biến nhất ở các Viện UNG THƯ trên thế giới. Kế hoạch điều trị cụ thể được dựa vao các yếu tố tiên lượng trình bày ở bảng dưới đây:
 
Top